o Long Vương lập tức rút
nước xuống. Ngọc Hoàng lại tức tốc triệu các thiên thần về trời, mặc
cho Na á muốn làm gì thì làm ở trần gian.
Từ đó, hễ khi nào lau trổ bông thì trời không còn sấm sét nữa,
mực nước các sông cũng đều rút thấp. Người già bảo đó là vì Ngọc
Hoàng, Thiên Lôi và Long Vương sợ Na á lại kéo quân lên phá Thiên
đình.


CHIẾC ÁO TÀNG HÌNH
Ngày xưa ở vùng Cao Bằng có một chàng trẻ tuổi, nay đây mai
đó làm nghề chài lưới, tên là Triều. Gia sản của anh không có gì
ngoài bộ đồ nghề làm. Nhưng tính anh vốn hay thương người. Mỗi
lần đánh được nhiều cá, anh thường đổi lấy gạo đem chu cấp cho
những người túng thiếu mà anh gặp. Vì vậy người nghèo khổ trong
vùng, ai cũng mến anh.
ở Cao Bằng một thời gian, Triều lại dời sang đưánh cá ở vùng
Thái Nguyên. ở đây, anh lại cứu giúp mọi người không tiếc sức. Một
hôm, anh không được mẻ cá nào. Nhưng lúc về dọc đường, anh bỗng
thấy đang nằm run rẩy dưới gốc cây. Động lòng thương, anh cởi ngay
chiếc áo đang mặc đắp vào người ông cụ.
Bẵng đi một dạo, một hôm anh đang buông chài giữa sông,
bỗng nghe trên núi cao có tiếng đàn văng vẳng. Anh dừng lại nghe
một cách say sưa. Qua ngày hôm sau, anh lại được nghe tiếng đàn
trên núi như hôm qua. Hôm sau nữa, cũng từ trên ngọn núi cũ, tiếng
đưàn quen thuộc lại bay đến tai anh. Lấy làm lạ, anh vội thu xếp đồ
nghề của mình, rồi tìm đường trèo lên núi, quyết tìm cho ra người
gảy đàn. Lần theo tiếng đưàn, anh vạch cỏ rẽ lau tiến bước. Cuối
cùng, đến một bãi rộng, anh thấy một cụ già đang ngồi trên phiến đá.
Ông cụ mải mê gảy đàn không biết có người tới gần. Triều nhận ra
khuôn mặt cụ già này rất giống với ông cụ nằm ở gốc cây hôm nọ.
Chờ cho bản đàn dứt hẳn, anh đến trước mặt hỏi:
- Thưa cụ, cụ là ai mà ngồi đánh đàn ở đây?
Ông cụ ngước mắt nhìn anh một cách âu yếm, rồi chỉ vào một
phiến đá trước mặt, bảo:
- Ta ngồi đợi con đây! Con trèo núi vó mệt lắm không? con haỹ
ngồi xuống đây nghỉ một tí.
Triều đỡ chén nước ở tay ông cụ, đã nghe ông cụ hỏi:
- Con có nhớ ta không?
- Có - Triều đáp ngay - Cụ có phải là người nằm ở gốc cây đưa
đầu làng hôm nọ không?
- Đúng - Ông cụ trả lời - Hôm nọ, con đành chịu mình trần để
nhường áo cho ta. Tấm lòng này thật là ít có. nay ta muốn đền cho
con một chiếc áo khác.
Nói xong, cụ cởi chiếc áo đang mặc quàng vào mình Triều rồi
biến mất.
Từ ngày được áo của Tiên cho, Triều mới biết đấy không phải là
chiếc áo thường mà là một bảo vật, có phép làm cho người ta tàng
hình. Mỗi lần mặc áo, không một ai nhận ra có anh ở trước mặt.
Triều mừng quá, từ đấy anh đi chu du khắp nơi. Anh thường mặc áo
rồi tìm đến nhà bọn giàu có, đường hoàng đi vào tận buồng chúng,
lấy gạo tiền cho những người nghèo. Anh kín đưáo trị tội những kẻ
bất lương, bạc ác. có những người vì quá cơ cực đang nằm lả bên vệ
đường mà thử ghan thì bỗng thấy có những quan tiền trước mặt. Có
những tên quan đưang nọc người ra đánh giữa công đường thì chính
hắn bỗng bị quất vào lưng đau quằn lên, nhưng ngoảnh lại thì vẫn
không hề tìm thấy ai. Nhiều sự việc giống nhau xảy ra, làm cho lời
đồn đại lan khắp cả một vùng. Người lo, kẻ mừng, nhưng ai cũng tin
rằng Trời Phật đã có con mắt.
Cứ như thế Triều đi khắp nơi và giúp đỡ người cùng khổ. Một
hôm, anh tìm đến đất kinh kỳ. Mặc áo vào, anh tha hồ đi đó đây cho
thoả mắt. Hết vào nhà bọn quyền quý, anh lại vào cung cấm là nơi từ
xưa không một người nào như anh dám bước chân đến. Thấy người
nghèo khó nhan nhản khắp phố phường, anh lẻn vào kho tàng nhà
vua lấy của ra phân phát cho họ. Vì thế kho công luôn luôn bị hao
hụt, nhưng không một ai tìm ra thủ phạm cả. Trong khi đó thì khắp
kinh đô đồn ầm lên rằng có một vị Tiên thường cứu giúp những người
đói khổ và trừng trị những tên gian tà. ở đâu Tiên cũng có mặt,
nhưng lại không "xuất đầu lộ diện" bao giờ.
Về phía Triều, anh vẫn ngày ngày làm công việc cứu giúp dân
nghèo, coi đây là phận sự của mình, mà không hề băn khoăn đến
chuyện báo đáp. Anh đã làm cho bọn giàu sang xiết bao sợ hãi, lo
lắng khi thấy tiền của chúng tự nhiên không cánh mà bay, mặc dầu
trong nhà ngoài ngõ đều có người canh gác cẩn mật.
Nhưng một hôm, sau khi trừng trị một tên quyền quý ỷ thế
đưánhh người, anh vội lẻn ra khỏi nhà hắn ngay vì thấy kẻ hầu
người hạ của hắn nghe tiếng động đổ xô tới rất đông. Giữa lưúc vội
vàng, anh vướng vào một chiếc gai tre ở bờ giậu làm cho chiếc toạc
mất một miếng. Sợ rằng để vậy có thể bị lộ nên anh đã dùng một
mụn giẻ vá lại. Sau đó, hàng ngày anh lại vào kho nhà vua tiếp tục
phận sự của mình.
Từ ngày thấy kho luôn bị hao hụt, nhà vua hết sức lo lắng. Vua
hạ lệnh cho bọn quan coi kho phải tìm bắt cho kỳ được tên trôm bí
mật, nếu không sẽ trị tội không tha. Bọn này nhiều phen cố sức rình
mò nhưng chỉ hoài công vô ích. Tiền bạc trong kho cứ vơi dần mà
chúng vẫn không tìm ra dấu vết gì đáng kể. Sau cùng, chúng sai
thửa một kiểu bẫy lới rất nhạy để chụp vào những nơi mà chúng nghi
ngờ.
Hôm ấy, bọn quan coi kho bỗng thấy có một con bươm bướm
trắng ngoài cổng bay vào kho. Bướm bay đi dạo lại những đĩnh bạc
trắng xoá, rồi bướm lại thủng thỉng bay ra. Lập tức chúng chụp ngay
lới xuống chỗ có bướm. Và thế là Triều bị bắt. Chỉ vì miếng vải vá vào
chiếc áo tàng hình khiến anh bị lộ. Bắt được Triều, bọn quan coi kho
mừng lắm, liền giải anh lên vua. Vua sai bỏ ngục để chờ xét xử.
Hồi ấy, có ông vua một nước láng giềng từ lâu vẫn nuôi ngầm
mưu mô đánh chiếm nước ta. Giữa lúc Triều bị hạ ngục, thì hàng vạn
binh mã của nước láng giềng cũng đưang ùn ùn kéo sang. Nhà vua
đã cho quân đội ra chống giữ, nhưng đánh trận nào thua trận ấy,
không sao ngăn cản được kẻ địch tiến như vũ bão. Tình hình bỗng trở
nên nguy ngập. Tin cấp báo từ biên giới một ngày đưa về không biết
bao nhiêu chuyến ngựa trạm, làm cho kinh đô nháo nhác. Nghe được
tin này, Triều liền bảo quan coi ngục tâu vua cho mình được đi dẹp
giặc cứu nước. Nhà vua mừng quá, vội sai tháo xiềng cho anh, và gọi
anh đến hỏi:
- Nhà ngươi cần bao nhiêu binh mã?
- Tâu bệ hạ - anh đáp, - chỉ cần một mình tôi cũng có thể đuổi
được giặc dữ. Chỉ xin bệ hạ cho tôi một thanh gơm.
Vua liền cởi gươm của mình trao cho Triều và phong anh là Hộ
quốc tướng quân, Vua còn ra lệnh cho quân đội phải tuân theo lệnh
anh.
Trước ngày lên đường, những người nghèo khổ nghe tin anh
được tha và phong tướng đi đánh giặc, đều tìm đến cảm ơn và tình
nguyện đi theo. Triều cho sắp xếp thành đội ngũ và cùng kéo nhau
lên đường.
Lúc đến vùng quân giặc đang chiếm đóng. Triều mặc ngay chiếc
áo tàng hình vào người đi thẳng vào trại giặc. Chỉ một lát sau, anh
chém chết tên chỉ huy toán quân tiên phong. Bọn giặc mất tớng nh
rắn không đầu, bỏ chưạy tán loạn. Những người đi theo Triều chỉ có
việc chia nhau đón khắp các nẻo tóm cổ đưa về. Đến những trại khác
của giặc, Triều cũng làm như vậy. Không bao lâu cả đội tiên phong
tinh nhuệ của giặc bị tiêu diệt và bị bắt sống, không sót một tên. Các
đội quân khác còn lại kinh hoàng, cho là bên phía Đại Việt có vị thần
thiêng trợ chiến nên bao nhiêu tướng tài của mình đều bị chém đầu.
Thấy quân sĩ ngã lòng, tên vua láng giềng đành hạ lệnh rút lui. Từ
đấy biên giới lại vô sự. Khắp nơi ai nấy ca ngợi công lao của Triều.
Lúc Triều kéo quân khải hoàn, vua khen ngợi anh hết lời. Vua
phong cho anh làm quan đại thần, cắt đất đai huyện cho anh ăn lộc,
lại gả con gái cho anh làm vợ.
Từ đấy người ta quen gọi anh là Quan Thiều. Ngày nay ở Cao
Bằng có đền thờ Quan Thiều.


CHIẾC CẦU PHÚC ĐỨC
Một chàng trai sinh ra trong gia đình ba đời sống nhờ ăn trộm.
Một ông quan giàu có nhưng tổ tiên ba đời làm quan ức hiếp dân
lành. Đều là những người bất hạnh, họ gặp nhau và quyết tâm làm
nên chiếc cầu phúc đức bắc qua sông. Cuối cùng, chàng trai nghèo
lấy được vợ, có được sự sung túc và ông quan có con theo ý muốn.
Truyện Chiếc cầu phúc đức khuyên con người sống ở đời nên làm
nhiều việc thiện sẽ gặp được phúc lành.
Ngày xưa có anh chưàng chuyên sống về nghề ăn trộm. Trong
nhà còn có mẹ già phải nuôi. Tuy có lúc được nhiều, có lúc được ít,
nhưng trong nhà không bao giờ có của để dành. Hai mẹ con chàng
thường phải chịu bữa ăn, bữa nhịn.
Một hôm, nhân ngày giỗ chưa, mẹ chàng ôn lại cho chàng nghe
cuộc đời của ông và chưa chàng xưa kia.
Xưa kia ông nội của chàng cũng làm nghề ăn trộm, có đêm
kiếm được những món đáng bạc chục, bạc trăm, vậy mà khi nhắm
mắt xuôi tay cũng không để lại cho chưa chàng được chút gì.
Rồi đến đời chưa chàng. Lớn lên, không biết chọn nghề gì khác
tốt hơn, chưa chàng lại nối nghề ông cụ, đến đêm lại đi rình mò hết
làng trên đến xóm dưới, mà cũng không bao giờ kiếm được nổi hai
bữa cho hai vợ chồng và đứa con. Rồi chưa chàng chết đi cũng không
có gì để lại. Nay đến đời chàng, lao theo cái nghề này đã gần hai chục
năm rồi mà tay trắng vẫn hoàn trắng tay. Đã vậy, chàng cũng không
tìm được nổi một người vợ, mặc dầu đã gần bốn chục tuổi đầu.
Ôn lại đời cha ông xưa và nhìn cuộc đời mình chàng không khỏi
thấy ngán ngẩm.
Một đêm, chàng đến rình nhà ông thầy đồ ở xóm bên, định ăn
trộm cái thủ lợn mà một nhóm học trò mang đến biếu. Rình mãi tới
khuya, ông thầy vẫn chưa đi ngủ, ông đọc hết trang sách này tới
trang sách khác. Chợt ông thầy đọc tới câu: "Tích thiện chi gia tất
hữu dư hương; tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương" (1). Chàng
bụng bảo dạ: "Phải chăng ông cha ta làm nghề thất đức nên để khổ
nhục lại cho ta"? Rồi tự đáp: "Phải, quả thật đúng như vậy". Đoạn
chàng chạy một mạch về nhà, quyết từ nay bỏ nghề ăn trộm.
Sáng hôm sau, chàng vác búa vào rừng hái củi mang ra chợ
bán. Công việc thật là vất vả, hái được một gánh củi chàng phải đổi
một bát mồ hôi mới kiếm được một món tiền mua gạo, nhưng chàng
thấy yên tâm hơn mọi ngày. Tuy vậy, đi đến đâu, chàng cũng nghe
tiếng người xì xào: "Cẩn thận đấy! Cái thằng ba đời ăn trộm đã đến
kia!". Cái tiếng "ba đời ăn trộm" làm cho chàng buồn bã. Chàng nghĩ:
"Từ nay ta phải làm những việc gì phúc đức họa may mới xóa được
mấy tiếng đó".
Một ngày mùa hạ, trời mưa to nước lũ tràn về. Chàng đem củi
đi chợ bán, vì nước 